Diễn đàn: Hướng tới chính phủ điện tử (2)
04:48-29/08/2007
TS Nguyễn Ái Việt: Gạn đục, khơi trong
Nên tiếp thu những hướng dẫn, quy định về cách tiến hành thực hiện ĐA 112. Trong giai đoạn trước, các quy định của Nhà Nước về CNTT còn thiếu nhiều nên khi triển khai rất “vướng”. Vì vậy, ban điều hành ĐA 112 phải “sáng chế” ra một loạt quy định, quy trình và nhờ các cơ quan khác phê duyệt. Có thể căn cứ vào những quy định đó để nói rằng họ chưa đúng, nhưng cách thông minh nhất là tiếp thu “di sản” đó.
Nên để một cơ quan chức năng danh chính ngôn thuận xem lại cái gì dùng được, cái gì không. Tôi nghĩ đa số là dùng được vì họ đã lăn lộn với thực tế, đã va vấp nhiều. Bên cạnh đó, một số tài liệu về kỹ thuật, cách xây dựng trung tâm tích hợp dữ liệu cũng nên kế thừa. Các phần mềm dùng chung thì nên giao lại (cả mã nguồn) cho các đơn vị chuyên nghiệp nào đó xem xét, nâng cấp, sửa đổi (nếu cần) để phát không cho các cơ quan nhà nước. Nếu các cơ quan đó dùng thì sẽ tiết kiệm đầu tư, nếu không dùng thì phải có lý do. Các chương trình đào tạo, giáo trình của ĐA 112 cũng cần được tận dụng, vì biên soạn lại cũng rất tốn kém tiền của, công sức... Ban điều hành đề án mới phải gạn đục khơi trong để cái gì dùng được thì dùng ở mức tối đa, tránh lãng phí.
TS Nguyễn Chí Công: Nội bộ chưa thông thì chưa làm được
Dịch vụ công chỉ có được nếu nội bộ các cơ quan chính quyền thông được với nhau. Hiện chúng ta chưa liên thông nội bộ, có khi chỉ cách nhau vài bước cũng phải dùng công văn. Ngành nào viết chương trình của ngành ấy, không có liên kết ngang. Thậm chí ngay trong cùng ngành cũng không khai thác được dữ liệu nội bộ của nhau. Khó khăn chính là ở cơ chế.
Ở nước ngoài, khi viết một đề án (ĐA), dự án bao giờ cũng có khảo sát xem trước đó người ta đã làm gì. Chúng ta không có công đoạn đó, dẫn đến nhiều ĐA nội dung gần như giống hệt nhau. Hiện nay, các ĐA về CNTT đều không có cơ chế phù hợp để giải ngân. Dùng văn bản của ngành xây dựng cho các dự án CNTT là mang trí tuệ so với vôi cát, vì đặc trưng của CNTT rất khác.
Muốn THH hành chính phải có mô hình. Mô hình dễ thấy nhất là “một cửa” (one door). Ở phương Tây, sau 10 năm theo mô hình “one door”, họ nhận thấy những điểm không phù hợp (bởi mỗi cơ quan công quyền có “một cửa” thì người dân vẫn phải đi nhiều cửa) và chuyển sang mô hình “one stop”. Trong mô hình này, người dân chỉ việc đến một nơi để đưa yêu cầu, sau đó là việc của chính quyền. Nội bộ chính quyền (gồm nhiều cơ quan khác nhau) phải thông suốt, phải thoả thuận được luồng công việc (work flow), định nghĩa được quy trình và thời hạn giải quyết. Như thế người dân không phải chạy chỗ nọ chỗ kia.
Tóm lại, cần có mô hình hành chính (trong đó định nghĩa tương quan giữa các cơ quan, công dân, doanh nghiệp) rồi mới xây dựng được phần mềm (PM), hệ thống thông tin. Tôi cho rằng không có PM dùng chung mà chỉ có dữ liệu dùng chung, vì công việc của các cơ quan, rất khác nhau. Cần làm sao khi dữ liệu của ngành A chuyển sang cho ngành B thì máy tính của ngành B vẫn đọc được.
Nhà Nước cần công bố mục tiêu thật rõ ràng và phải định lượng. Nếu “ra đề” được thì sau đó là việc của các công ty. Quá trình thực hiện cần có độc lập tư vấn, độc lập thi công, độc lập giám sát. Khi phân công các vị trí chủ chốt của một ĐA, phải nói rõ người đó có quyền hành gì, trách nhiệm như thế nào, không thể làm theo lối kiêm nhiệm. Nhân sự phải ổn định, nếu có thay đổi thì thay ngay bằng người khác phù hợp. Tất cả những cán bộ tham gia chỉ đạo, điều hành ĐA và các lãnh đạo của nhà nước, kể cả từ cấp cao nhất, đều cần được tham dự các khóa học về CPĐT.
TS Mai Anh: Nên thu nhỏ mục tiêu
Tới đây, sau ĐA 112 có thể là dự án CPĐT hay có thể là “nhà nước điện tử” (do đặc thù). Cái tên không quan trọng. Quan trọng là nội bộ cơ quan nhà nước phải được THH vừa đủ để phục vụ nhân dân, tránh đầu tư quá mức dẫn đến lãng phí. Mục tiêu nên thu nhỏ, bước đầu là công bố công văn, tài liệu, giấy tờ; xây dựng vài mô hình giao dịch công dân - chính quyền. Mục tiêu phải chỉ rõ những dịch vụ công nào được cung cấp, có tiêu chí đánh giá, lộ trình thật rõ ràng.
Để làm được những việc đó, phải xác định được những việc liên ngành (nhiều bộ cùng làm). Đầu tiên là phải có chuẩn thông tin trong giao dịch điện tử, nếu không có chuẩn thì không chia sẻ thông tin được. Thứ 2 là xây dựng định mức chi tiêu cho các dự án CNTT. Thứ 3 là tiến tới xây dựng hệ thống CSDL liên ngành đồng bộ để người dân có thể đi một cửa thực sự. Thứ 4 là xây dựng các hệ thống thông tin nghiệp vụ quốc gia phục vụ hoạt động điều hành.
Ông Nguyễn Minh Quang, phó GĐ sở BCVT tỉnh Bình Phước: Nhìn lại để đi đúng đường
Trước khi đi tiếp trên con đường dẫn tới CPĐT, chúng ta cần dành thời gian để xem những hòn đá chúng ta vấp phải trước đây. Với quan điểm cá nhân, tôi xin mạo muội đưa ra 4 điểm như sau :
1. Khai thông những con suối nhỏ để dẫn về biển lớn: Trong giai đoạn trước, việc xây dựng các trung tâm tích hợp dữ liệu thật qui mô trong khi các mạng LAN của các đơn vị và PM ứng dụng vẫn chưa thực sự hoạt động, các kết nối liên mạng vẫn chưa thông, cho thấy thiết kế hệ thống chưa phù hợp. Đó là kiểu xây đập nhưng quên mất rằng các con suối vẫn chưa có nước, hoặc đã có rồi thì nó chảy về đâu đó chứ không về đập. Từ góc nhìn này, cần thấy rằng ứng dụng CNTT phải đi từ cơ sở (đơn vị) theo một tiêu chuẩn nghiêm ngặt và một lộ trình xác định. Từ đó, phân bổ nguồn lực hợp lý, đảm bảo mục tiêu các con suối có thể hợp lại với nhau và cùng chảy về biển lớn.
2. Đảm bảo tính đồng bộ: Ứng dụng CNTT đòi hỏi từ nguồn nhân lực, phần cứng, PM, cơ sở dữ liệu đến hạ tầng mạng phải hoạt động đồng bộ. Nếu một trong các yếu tố trên không theo kịp, không bắt nhịp được với nhau sẽ dẫn đến hiệu quả rất thấp, có khi dẫn đến đổ vỡ. Khi triển khai ứng dụng CNTT trên diện rộng, tính đồng bộ rất dễ bị phá vỡ, dẫn đến tính khả thi không cao, xác suất rủi ro lớn. Do đó cần phân định rõ những nhóm cơ quan có những nhiệm vụ liên quan chặt chẽ với nhau và cùng độ ưu tiên công việc để giải quyết bài toán đồng bộ ứng dụng.
3. Cần có tiêu chuẩn thống nhất để đảm bảo các ứng dụng có thể “bắt tay” dễ dàng với nhau, có thể trao đổi thông tin giữa các cấp chính quyền, các cơ quan, đơn vị với nhau. Để làm được điều này cần phải huy động rất nhiều chuyên gia CNTT từ nhiều ngành khác nhau để xây dựng thành bộ tiêu chuẩn chung. Việc xếp thứ tự ưu tiên của ngành, lĩnh vực là rất quan trọng. Do đó, cần xác định một lộ trình ứng dụng CNTT quốc gia rõ ràng.
4. Nâng cao năng lực quản lý, điều hành dự án ứng dụng CNTT ở các cấp: Điều này xuất phát từ thực trạng qui hoạch ngành hiện nay thường dẫn đến qui hoạch “treo”. Cần nhận thức rõ các dự án ứng dụng CNTT là những dự án đầu tư phát triển chứ không phải là một tờ trình xin trang bị máy tính.
TS Nguyễn Quang A: Tránh tạo ra những "Chính phủ con"
Trước khi thực hiện nghị định 64 (NĐ 64), phải tính xem tiếp quản được gì từ ĐA 112. NĐ 64 rất rộng. Vì vậy, việc đầu tiên là phải xác định được phạm vi của đề án. CNTT - truyền thông phải là công cụ cho cải cách hành chính, là cơ hội để cải tổ toàn bộ hoạt động của chính quyền TW và địa phương. Vì thế chương trình triển khai NĐ 64 phải do Thủ Tướng chủ trì. Điều này phải được xác định bằng văn bản. Tôi đã nghiên cứu các ĐA CNTT từ nhiều năm nay, ĐA nào người đứng đầu không phải là người chủ trì thì đều thất bại. Đây là quyết định chính trị, không cần người đứng đầu phải am hiểu về CNTT, vì đó là việc của người tham mưu.
Nhiều việc có thể phân cho địa phương và các bộ làm, song hệ thống phải đảm bảo tính nhất quán về cấu trúc, về chuẩn, về các biểu mẫu, về giao tiếp. Nếu để cho 64 tỉnh làm theo kiểu 64 “vương quốc con”, mấy chục bộ làm theo kiểu “các CP con” thì sẽ tai hại vô cùng, và chắc chắn thất bại. NĐ 64 không chủ trương như thế. Tính thống nhất của hệ thống phải được bảo toàn. Việc dùng công nghệ nào, thiết bị nào, máy nào không phải là vấn đề quan trọng, các hệ thống con phải giao tiếp được với nhau, tính nhất quán của dữ liệu mới là quan trọng. Toàn bộ dự án phải được quản lý tập trung, việc triển khai có thể được tiến hành song song hay từng bước, tập trung hay phân tán và có thể phân nhiều việc cho địa phương.
Chủ tịch các tỉnh và thành phố, bộ trưởng các bộ phải là thành viên của ban chủ nhiệm dự án (DA) do Thủ Tướng đứng đầu. Giúp việc cho ban chủ nhiệm là ban điều hành dự án, chủ yếu gồm các chuyên gia (từ bên ngoài, từ các bộ, các địa phương điều lên, trong đó có chuyên gia tin học nhưng chỉ nên chiếm số ít). Những người này phải am hiểu về quản lý dự án, họ không có quyền quyết định như ban chủ nhiệm. Tất cả các ban này chỉ tồn tại trong thời gian của DA. Ban điều hành DA phải làm việc toàn thời gian, không kiêm nhiệm, họ phải tiến hành DA một cách chuyên nghiệp, và phải có kế hoạch tài chính chi tiết, kể cả kinh phí để cho ban điều hành hoạt động. Bộ BCVT có thể đóng vai trò là giám đốc dự án. Cốt lõi nhất của DA CPĐT vẫn là cải cách hành chính (CCHC) và tin học chỉ là công cụ.
(Theo PCWorld Việt Nam)